MỘT SỐ LƯU Ý MỚI TRONG VIỆC KHAI THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
[Trích thông tư 156/2013/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 20/12/2013. Thay
thế cho thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính
1. Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế
a) Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
b) Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa
phương cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cùng nơi người nộp thuế
có trụ sở chính thì người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng
chung cho cả đơn vị trực thuộc.
Nếu đơn vị trực thuộc có con dấu,
tài khoản tiền gửi ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, kê khai
đầy đủ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra có nhu cầu kê khai nộp thuế
riêng phải đăng ký nộp thuế riêng và sử dụng hóa đơn riêng.
Căn cứ
tình hình thực tế trên địa bàn quản lý, giao Cục trưởng Cục Thuế địa
phương quyết định về nơi kê khai thuế đối với trường hợp người nộp thuế
có hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhà hàng, khách sạn, massage,
karaoke.
c) Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh
doanh ở địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính thì
đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan thuế
quản lý trực tiếp của đơn vị trực thuộc; nếu đơn vị trực thuộc không
trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu thì thực hiện khai thuế
tập trung tại trụ sở chính của người nộp thuế.
Đối với trường hợp
người nộp thuế có dự án kinh doanh bất động sản ở địa phương cấp tỉnh
khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính, có thành lập đơn vị trực thuộc
(chi nhánh, Ban quản lý dự án…) thì người nộp thuế phải thực hiện đăng
ký thuế và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ đối với hoạt động kinh
doanh bất động sản với cơ quan thuế địa phương nơi phát sinh hoạt động
kinh doanh bất động sản.
Ví dụ 12: Công ty kinh doanh bất động sản A
có trụ sở tại Hà Nội, Công ty là chủ đầu tư dự án phát triển nhà tại
thành phố Đà Nẵng, Công ty thành lập chi nhánh tại Đà Nẵng để quản lý dự
án thì chi nhánh Công ty A phải thực hiện đăng ký thuế, khai nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản
này tại Đà Nẵng.
Trường hợp các đơn vị trực thuộc của cơ sở kinh
doanh nông, lâm, thủy sản đã đăng ký, thực hiện kê khai nộp thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ, có thu mua hàng hóa là nông, lâm, thủy sản để
điều chuyển, xuất bán về trụ sở chính của cơ sở kinh doanh thì khi điều
chuyển, xuất bán, đơn vị trực thuộc sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận
chuyển nội bộ, không sử dụng hóa đơn GTGT.
d) Trường hợp người nộp
thuế kê khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ có cơ sở sản xuất trực
thuộc (bao gồm cả cơ sở gia công, lắp ráp) không trực tiếp bán hàng,
không phát sinh doanh thu đóng trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính thì:
Nếu cơ sở sản xuất trực thuộc có hạch toán kế toán thì phải đăng ký nộp
thuế theo phương pháp khấu trừ tại địa phương nơi sản xuất, khi điều
chuyển bán thành phẩm hoặc thành phẩm, kể cả xuất cho trụ sở chính phải
sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng làm căn cứ kê khai, nộp thuế tại địa
phương nơi sản xuất.
Nếu cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện
hạch toán kế toán thì người nộp thuế thực hiện khai thuế tại trụ sở
chính và nộp thuế cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc.
Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản
xuất trực thuộc được xác định theo tỷ lệ 2% (đối với hàng hóa chịu thuế
suất thuế GTGT 10%) hoặc theo tỷ lệ 1% (đối với hàng hóa chịu thuế suất
thuế GTGT 5%) trên doanh thu theo giá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản
xuất ra. Việc xác định doanh thu của sản phẩm sản xuất ra được xác định
trên cơ sở giá thành sản phẩm hoặc doanh thu của sản phẩm cùng loại tại
địa phương nơi có cơ sở sản xuất.
Trường hợp tổng số thuế giá trị
gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc do
người nộp thuế xác định theo nguyên tắc nêu trên lớn hơn số thuế giá
trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính thì người nộp
thuế tự phân bổ số thuế phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản
xuất trực thuộc như sau: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho địa
phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định bằng (=) số thuế
giá trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính nhân (x)
với tỷ lệ (%) giữa doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của
sản phẩm do cơ sở trực thuộc sản xuất ra hoặc sản phẩm cùng loại tại địa
phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên tổng doanh thu theo giá
chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất ra của toàn doanh
nghiệp. Nếu người nộp thuế không phát sinh số thuế phải nộp tại trụ sở
chính thì người nộp thuế không phải nộp thuế cho các địa phương nơi có
cơ sở sản xuất.
Người nộp thuế phải lập và gửi “Bảng phân bổ thuế
GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có
cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán” theo mẫu số
01-6/GTGT kèm theo Thông tư này cùng với hồ sơ khai thuế tới cơ quan
thuế quản lý trực tiếp, đồng thời gửi một bản Bảng phân bổ mẫu số
01-6/GTGT nêu trên tới các cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất
trực thuộc.
Căn cứ số thuế giá trị gia tăng được phân bổ giữa địa
phương nơi đóng trụ sở chính của người nộp thuế và các địa phương nơi có
cơ sở sản xuất trực thuộc trên Bảng phân bổ theo mẫu số 01-6/GTGT nêu
trên, người nộp thuế lập chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng cho địa
phương nơi có trụ sở chính và từng địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực
thuộc. Trên chứng từ nộp thuế phải ghi rõ nộp vào tài khoản thu ngân
sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế nơi trụ sở
chính đăng ký kê khai thuế và địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực
thuộc.
Ví dụ 13: Công ty A trụ sở tại Hà Nội có 2 đơn vị sản xuất
trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán đóng tại Hải Phòng và Hưng
Yên. Sản phẩm sản xuất ra thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT là
10% và do trụ sở chính xuất bán.
Trong kỳ khai thuế tháng 8/2014:
doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất
ra tại nhà máy ở Hải Phòng là 500 triệu; doanh thu theo giá chưa có thuế
giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất ra tại nhà máy ở Hưng Yên là 600
triệu. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp tại trụ sở chính của công ty A
(theo tờ khai 01/GTGT) trong kỳ là: 25 triệu đồng.
Số thuế GTGT mà Công ty A phải nộp cho Hải Phòng là:
500 triệu x 2% = 10 triệu đồng.
Số thuế GTGT mà Công ty A phải nộp cho Hưng Yên là:
600 triệu x 2% = 12 triệu đồng.
Số thuế GTGT mà Công ty A phải nộp cho Hà Nội là:
25 triệu - 10 triệu - 12 triệu = 3 triệu đồng.
Ví dụ 14: Công ty A trụ sở tại Hà Nội có 3 nhà máy sản xuất trực thuộc
không thực hiện hạch toán kế toán đóng tại Hà Nội, Hải Phòng và Hưng
Yên. Sản phẩm sản xuất ra do trụ sở chính xuất bán.
Trong kỳ khai
thuế tháng 9/2014: doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của
sản phẩm sản xuất ra tại nhà máy ở Hải Phòng là 500 triệu; doanh thu
theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất ra tại nhà
máy ở Hưng Yên là 600 triệu; doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia
tăng của sản phẩm sản xuất ra tại nhà máy ở Hà Nội là 200 triệu.
Số thuế GTGT phải nộp tại trụ sở chính của Công ty A (theo tờ khai 01/GTGT) trong kỳ là: 20 triệu đồng.
Theo nguyên tắc tạm nộp tại các địa phương theo tỷ lệ 2% doanh thu đối
với hàng hóa chịu thuế 10%, Công ty A xác định số thuế GTGT phải nộp cho
Hải Phòng và Hưng Yên là: 500 triệu x 2% + 600 triệu x 2% = 22 triệu.
Như vậy khi xác định theo nguyên tắc này thì số thuế phải nộp cho các
địa phương sẽ lớn hơn số thuế GTGT phải nộp của Công ty A tại trụ sở
chính. Vì vậy, Công ty A tự phân bổ số thuế GTGT phải nộp cho các địa
phương như sau:
Số thuế GTGT mà Công ty A phải nộp cho Hải Phòng là:
20 triệu x 500 triệu / (500 triệu + 600 triệu +200 triệu) = 7.69 triệu đồng.
Số thuế GTGT mà Công ty A phải nộp cho Hưng Yên là:
20 triệu x 600 triệu / (500 triệu + 600 triệu + 200 triệu) = 9.23 triệu đồng.
Số thuế GTGT mà Công ty A phải nộp cho Hà Nội là:
20 triệu - 7.69 triệu - 9.23 triệu = 3.08 triệu đồng.
Ví dụ 15: Công ty A trụ sở tại Hà Nội có 2 đơn vị sản xuất trực thuộc
không thực hiện hạch toán kế toán đóng tại Hải Phòng và Hưng Yên. Sản
phẩm sản xuất ra do trụ sở chính xuất bán.
Trong kỳ khai thuế tháng
10/2014: doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm
sản xuất ra tại nhà máy ở Hải Phòng là 400 triệu; doanh thu theo giá
chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất ra tại nhà máy ở
Hưng Yên là 500 triệu. Tháng 10/2014, Công ty A không phát sinh số thuế
phải nộp tại trụ sở chính. Công ty A cũng không phải nộp thuế giá trị
gia tăng cho Hải Phòng và Hưng Yên.
đ) Trường hợp người nộp thuế có
hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoại tỉnh và
chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh không thuộc trường hợp quy định
tại điểm c khoản 1 Điều này, mà không thành lập đơn vị trực thuộc tại
địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính (sau đây gọi
là kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất
động sản ngoại tỉnh) thì người nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ
quan thuế quản lý tại địa phương có hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán
hàng vãng lai và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh.
Căn cứ tình
hình thực tế trên địa bàn quản lý, giao Cục trưởng Cục Thuế địa phương
quyết định về nơi kê khai thuế đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán
hàng vãng lai ngoại tỉnh và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh.
Ví dụ 16: Công ty A trụ sở tại Hải Phòng, ký hợp đồng cung cấp xi măng
cho Công ty B có trụ sở tại Hà Nội, theo hợp đồng, hàng hóa sẽ được Công
ty A giao tại công trình mà công ty B đang xây dựng tại Hà Nội, thì
hoạt động bán hàng này không được gọi là bán hàng vãng lai ngoại tỉnh.
Công ty A thực hiện kê khai thuế GTGT tại Hải Phòng, không phải thực
hiện kê khai bán hàng vãng lai đối với doanh thu từ hợp đồng bán hàng
cho Công ty B tại Hà Nội.
Ví dụ 17: Công ty B có trụ sở tại thành
phố Hồ Chí Minh, có các kho hàng tại Hải Phòng, Nghệ An không có chức
năng kinh doanh. Khi Công ty B xuất bán hàng hóa tại kho ở Hải Phòng cho
Công ty C tại Hưng Yên thì Công ty B không phải kê khai thuế GTGT bán
hàng vãng lai tại địa phương nơi có các kho hàng (Hải Phòng, Nghệ An).
Ví dụ 18:
- Công ty A có trụ sở tại Hà Nội, ký hợp đồng với Công ty B chỉ để thực
hiện tư vấn, khảo sát, thiết kế công trình được xây dựng tại Sơn La mà
Công ty B là chủ đầu tư thì hoạt động này không phải hoạt động kinh
doanh xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh. Công ty A thực hiện khai thuế GTGT
đối với hợp đồng này tại trụ sở chính tại Hà Nội, không phải thực hiện
kê khai tại Sơn La.
- Công ty A có trụ sở tại Hà Nội, ký hợp đồng
với Công ty C để thực hiện công trình được xây dựng (trong đó có bao gồm
cả hoạt động khảo sát, thiết kế) tại Sơn La mà Công ty C là chủ đầu tư
thì Công ty A thực hiện khai thuế GTGT xây dựng vãng lai đối với hợp
đồng này tại Sơn La.
Ví dụ 19: Công ty B trụ sở tại Hà Nội bán máy
điều hòa cho khách tại Hòa Bình (bao gồm cả lắp đặt) thì Công ty B không
phải nộp vãng lai tại Hòa Bình.
Ví dụ 20: Công ty A có trụ sở tại
Hà Nội mua 10 căn nhà thuộc 1 dự án của Công ty B tại thành phố Hồ Chí
Minh. Sau đó Công ty A bán lại các căn nhà này và thực hiện xuất hóa đơn
cho khách hàng C thì Công ty A phải thực hiện kê khai, nộp thuế đối với
hoạt động chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh theo tỷ lệ % doanh thu
với cơ quan thuế tại thành phố Hồ Chí Minh.
e) Trường hợp người nộp
thuế có công trình xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh liên quan tới nhiều địa
phương như: xây dựng đường giao thông, đường dây tải điện, đường ống dẫn
nước, dẫn dầu, dẫn khí,..., không xác định được doanh thu của công
trình ở từng địa phương cấp huyện, tỉnh thì người nộp thuế khai thuế giá
trị gia tăng của doanh thu xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh chung với hồ sơ
khai thuế giá trị gia tăng tại trụ sở chính.
2. Khai thuế giá trị gia tăng
a) Khai thuế giá trị gia tăng là loại khai thuế theo tháng trừ các trường hợp hướng dẫn tại điểm b, c, d khoản này.
b) Khai thuế giá trị gia tăng theo quý.
b.1) Đối tượng khai thuế GTGT theo quý
Khai thuế theo quý áp dụng đối với người nộp thuế giá trị gia tăng có
tổng doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ
20 tỷ đồng trở xuống.
Trường hợp người nộp thuế mới bắt đầu hoạt
động sản xuất kinh doanh việc khai thuế giá trị gia tăng được thực hiện
theo tháng. Sau khi sản xuất kinh doanh đủ 12 tháng thì từ năm dương
lịch tiếp theo sẽ căn cứ theo mức doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ của
năm dương lịch trước liền kề (đủ 12 tháng) để thực hiện khai thuế giá
trị gia tăng theo tháng hay theo quý.
Ví dụ 21:
- Doanh nghiệp A
bắt đầu hoạt sản xuất kinh doanh từ tháng 1/2014 thì từ kỳ khai thuế
tháng 1/2014 đến kỳ khai thuế tháng 12/2014, doanh nghiệp A thực hiện
khai thuế GTGT theo tháng. Doanh nghiệp căn cứ vào doanh thu của năm
2014 (đủ 12 tháng của năm dương lịch) để xác định năm 2015 thực hiện
khai thuế tháng hay khai quý.
- Doanh nghiệp B bắt đầu hoạt động sản
xuất kinh doanh từ tháng 8/2013 thì từ kỳ khai thuế tháng 8/2013 đến kỳ
khai thuế tháng 12/2014, doanh nghiệp B thực hiện khai thuế GTGT theo
tháng. Doanh nghiệp căn cứ vào doanh thu của năm 2014 (đủ 12 tháng của
năm dương lịch) để xác định năm 2015 thực hiện khai thuế theo tháng hay
theo quý.
Người nộp thuế có trách nhiệm tự xác định thuộc đối tượng
khai thuế theo tháng hay kê khai thuế theo quý để thực hiện khai thuế
theo quy định.
Trường hợp người nộp thuế đủ điều kiện và thuộc diện
khai thuế GTGT theo quý muốn chuyển sang khai thuế theo tháng thì gửi
thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng với thời
hạn nộp tờ khai thuế GTGT của tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế
GTGT theo tháng.
b.2) Thời kỳ khai thuế theo quý
Việc thực hiện
khai thuế theo quý hay theo tháng được ổn định trọn năm dương lịch và ổn
định theo chu kỳ 3 năm. Riêng chu kỳ ổn định đầu tiên được xác định
tính kể từ ngày 01/7/2013 đến hết ngày 31/12/2016.
Trong chu kỳ khai
thuế ổn định theo quý, nếu người nộp thuế tự phát hiện hoặc qua thanh
tra, kiểm tra, cơ quan thuế kết luận doanh thu của năm trước liền kề của
chu kỳ khai thuế ổn định này trên 20 tỷ đồng, người nộp thuế không đủ
điều kiện để khai thuế giá trị gia tăng theo quý của chu kỳ ổn định đó
thì từ năm tiếp theo của năm phát hiện cho đến hết chu kỳ ổn định, người
nộp thuế phải thực hiện khai thuế giá trị gia tăng theo tháng.
Trong chu kỳ khai thuế ổn định theo tháng, nếu người nộp thuế tự phát
hiện hoặc qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế kết luận doanh thu của
năm trước liền kề của chu kỳ khai thuế ổn định này từ 20 tỷ đồng trở
xuống, người nộp thuế đủ điều kiện để khai thuế giá trị gia tăng theo
quý của chu kỳ ổn định đó thì người nộp thuế được lựa chọn hình thức
khai thuế theo tháng hoặc quý từ năm tiếp theo của năm phát hiện cho đến
hết chu kỳ ổn định.
Ví dụ 22: Doanh nghiệp C năm 2012 có tổng doanh
thu là 18 tỷ đồng nên thuộc diện khai thuế GTGT theo quý từ ngày
01/7/2013. Doanh thu của năm 2013; 2014; 2015 hoặc 2016 do doanh nghiệp
kê khai (kể cả trường hợp khai bổ sung) hoặc do kiểm tra, thanh tra kết
luận là 25 tỷ đồng thì doanh nghiệp C vẫn tiếp tục thực hiện khai thuế
GTGT theo quý đến hết năm 2016. Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ khai
thuế mới dựa trên doanh thu của năm 2016.
Ví dụ 23: Doanh nghiệp D
năm 2012 có tổng doanh thu là 27 tỷ đồng nên thực hiện khai thuế GTGT
theo tháng. Doanh thu năm 2013 do doanh nghiệp kê khai (kể cả trường hợp
khai bổ sung) hoặc do kiểm tra, thanh tra kết luận là 18 tỷ đồng thì
doanh nghiệp D vẫn thực hiện khai thuế GTGT theo tháng đến hết năm 2016.
Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ khai thuế mới dựa trên doanh thu của
năm 2016.
Ví dụ 24: Doanh nghiệp E năm 2012 có tổng doanh thu trên
tờ khai thuế GTGT là 17 tỷ đồng nên thuộc diện khai thuế GTGT theo quý
từ ngày 01/7/2013. Năm 2014, cơ quan thuế thanh tra kết luận doanh thu
tính thuế GTGT của năm 2012 tăng thêm 5 tỷ so với số liệu kê khai là 22
tỷ, thì từ năm 2015 đến hết năm 2016 doanh nghiệp E thực hiện khai thuế
GTGT theo tháng. Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ khai thuế mới dựa
trên doanh thu của năm 2016.
Ví dụ 25: Doanh nghiệp G năm 2012 có
tổng doanh thu trên tờ khai thuế GTGT là 17 tỷ đồng nên thuộc diện khai
thuế GTGT theo quý từ ngày 01/7/2013. Năm 2014, Doanh nghiệp G tự khai
bổ sung doanh thu tính thuế GTGT của năm 2012 tăng thêm 5 tỷ so với số
liệu kê khai là 22 tỷ, thì từ năm 2015 đến hết năm 2016 doanh nghiệp G
thực hiện khai thuế GTGT theo tháng. Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ
khai thuế mới dựa trên doanh thu của năm 2016.
Ví dụ 26: Doanh
nghiệp H thành lập tháng 7/2013, tổng doanh thu trên tờ khai thuế GTGT
năm 2014 dưới 20 tỷ thì doanh nghiệp H được khai thuế theo quý từ năm
2015 đến hết năm 2016. Từ năm 2017 sẽ xác định lại chu kỳ khai thuế mới
dựa trên doanh thu của năm 2016.
b.3) Cách xác định doanh thu bán
hàng hóa, cung cấp dịch vụ năm trước liền kề làm điều kiện xác định đối
tượng khai thuế giá trị gia tăng theo quý
- Doanh thu bán hàng hóa,
cung cấp dịch vụ được xác định là Tổng doanh thu trên các Tờ khai thuế
giá trị gia tăng của các kỳ tính thuế trong năm dương lịch (bao gồm cả
doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng và doanh thu không chịu thuế giá
trị gia tăng).
- Trường hợp người nộp thuế thực hiện khai thuế tại
trụ sở chính cho đơn vị trực thuộc thì doanh thu bán hàng hoá, cung cấp
dịch vụ bao gồm cả doanh thu của đơn vị trực thuộc.
c) Khai thuế giá
trị gia tăng tạm tính theo từng lần phát sinh đối với hoạt động kinh
doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản
ngoại tỉnh.
d) Khai thuế giá trị gia tăng theo từng lần phát sinh
đối với thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên doanh số
của người kinh doanh không thường xuyên.
3. Khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
a) Đối tượng khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ là
người nộp thuế tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế
theo quy định của pháp luật về thuế GTGT.
b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý áp dụng phương pháp khấu trừ thuế
- Tờ khai thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này;
- Bảng kê hóa đơn hàng hóa dịch vụ bán ra theo mẫu số 01-1/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này;
- Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào theo mẫu số 01-2/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này;
- Bảng kê hàng hóa, dịch vụ được áp dụng thuế suất 0% theo mẫu số 01-3/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.
- Bảng phân bổ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào
được khấu trừ trong tháng, quý theo mẫu số 01-4A/GTGT ban hành kèm theo
Thông tư này (áp dụng đối với trường hợp người nộp thuế phân bổ số thuế
giá trị gia tăng được khấu trừ trong tháng, quý theo tỷ lệ (%) doanh thu
hàng hóa dịch vụ bán ra chịu thuế giá trị gia tăng trên tổng doanh thu
hàng hóa dịch vụ bán ra của tháng, quý).
- Bảng kê khai điều chỉnh
thuế giá trị gia tăng đầu vào phân bổ được khấu trừ năm theo mẫu số
01-4B/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này (áp dụng đối với trường hợp
người nộp thuế tính phân bổ lại số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ
trong năm theo tỷ lệ (%) doanh thu hàng hóa dịch vụ bán ra chịu thuế giá
trị gia tăng trên tổng doanh thu hàng hóa dịch vụ bán ra của năm). Số
liệu điều chỉnh tăng, giảm thuế giá trị gia tăng đầu vào phân bổ được
khấu trừ được tổng hợp vào Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng mười hai
hoặc của quý 4 của năm.
- Bảng kê số thuế giá trị gia tăng đã nộp
của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển
nhượng bất động sản ngoại tỉnh theo mẫu số 01-5/GTGT ban hành kèm theo
Thông tư này.
- Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ
sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không
thực hiện hạch toán kế toán (nếu có) theo mẫu số 01-6/GTGT kèm theo
Thông tư này.
- Bảng kê số lượng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy bán ra
theo mẫu số 01-7/GTGT (áp dụng đối với cơ sở kinh doanh xe ô tô, xe hai
bánh gắn máy).
c) Trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng nộp
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương cùng nơi đóng trụ sở chính, đang trong
giai đoạn đầu tư thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và phải
bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng
cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh
doanh đang thực hiện. Sau khi bù trừ nếu có số thuế giá trị gia tăng của
hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư mà chưa được bù trừ
hết theo mức quy định của pháp luật về thuế GTGT thì được hoàn thuế giá
trị gia tăng cho dự án đầu tư.
Trường hợp người nộp thuế có dự án
đầu tư tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với tỉnh,
thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào
hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, thì người nộp
thuế lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và nộp tại cơ quan thuế
quản lý trực tiếp nơi đóng trụ sở chính. Nếu số thuế GTGT của hàng hoá,
dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư theo mức quy định của pháp luật
về thuế GTGT thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư.
Trường hợp người nộp thuế có quyết định thành lập các Ban Quản lý dự án
hoặc chi nhánh đóng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác
với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính để thay mặt người nộp thuế
trực tiếp quản lý một hoặc nhiều dự án đầu tư tại nhiều địa phương; Ban
Quản lý dự án, chi nhánh có con dấu theo quy định của pháp luật, lưu giữ
sổ sách chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, có tài khoản
gửi tại ngân hàng, đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế thì Ban Quản
lý dự án, chi nhánh phải lập hồ sơ khai thuế riêng với cơ quan thuế địa
phương nơi đăng ký thuế. Khi dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp đã
hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp
thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế giá trị
gia tăng phát sinh, số thuế giá trị gia tăng đã hoàn, số thuế giá trị
gia tăng chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành
lập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn
thuế giá trị gia tăng theo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
Ví dụ 27: Doanh nghiệp A có trụ sở chính tại Hà Nội, có dự án đầu tư
tại Hải Phòng, đồng thời có thành lập Ban Quản lý dự án hoặc chi nhánh
tại Hải Phòng để thay mặt người nộp thuế trực tiếp quản lý dự án đầu tư
này; Ban Quản lý dự án hoặc chi nhánh có con dấu theo quy định của pháp
luật, lưu giữ sổ sách chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán,
có tài khoản gửi tại ngân hàng, đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế
thì Ban Quản lý dự án hoặc chi nhánh phải lập hồ sơ khai thuế riêng với
cơ quan thuế tại Hải Phòng.
Ví dụ 28: Doanh nghiệp A có trụ sở tại
Hà Nội, năm 2014 có dự án xây dựng nhà máy thép ở Hải Phòng (dự án gồm 3
tổ hợp), dự án đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa
đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, doanh nghiệp A lập hồ sơ khai
thuế riêng cho dự án đầu tư và nộp tại cơ quan thuế Hà Nội - nơi đóng
trụ sở chính, và thực hiện hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư tại Hà Nội.
Đến năm 2017, Nhà máy thép Hải phòng đã đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế
có tổ hợp thứ nhất đi vào hoạt động và có doanh thu đầu ra thì nhà máy
thực hiện kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ tại Hải Phòng. Đối
với tổ hợp thứ hai và tổ hợp thứ ba vẫn đang trong giai đoạn tiếp tục
xây dựng thì Nhà máy thực hiện kê khai thuế GTGT riêng cho dự án đầu tư,
bù trừ với số thuế GTGT phải nộp của Nhà máy và đề nghị hoàn thuế GTGT
tại Hải Phòng
Ví dụ 29: Doanh nghiệp A hoạt động trong lĩnh vực xây
dựng, kinh doanh bất động sản. Doanh nghiệp A có dự án xây dựng nhà
chung cư để bán thì đây là hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh
nghiệp, không thuộc trường hợp được hoàn thuế GTGT theo dự án đầu tư.
Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng của dự án đầu tư bao gồm:
- Tờ khai thuế GTGT dành cho dự án đầu tư theo mẫu số 02/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này;
- Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào theo mẫu số 01-2/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.
Trường hợp người nộp thuế có dự án đầu tư và phải thực hiện bù trừ số
thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án
đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh đang
thực hiện thì việc kê khai thuế giá trị gia tăng của dự án đầu tư theo
tháng hay quý được thực hiện cùng với việc kê khai thuế giá trị gia tăng
của trụ sở chính.
4. Khai thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng
a) Đối tượng khai thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp
trên giá trị gia tăng là người nộp thuế giá trị gia tăng theo phương
pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng theo quy định pháp luật về thuế
GTGT.
b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng/quý tính theo phương
pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là Tờ khai thuế giá trị gia tăng
theo mẫu số 03/GTGT ban hành theo Thông tư này.
5. Khai thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu
a) Đối tượng khai thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp
trên doanh thu là người nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên
doanh thu theo quy định pháp luật về thuế GTGT.
b) Hồ sơ khai thuế
giá trị gia tăng tháng/quý tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh
thu là Tờ khai thuế giá trị gia tăng mẫu số 04/GTGT và Bảng kê hóa đơn
hàng hóa dịch vụ bán ra theo mẫu số 04-1/GTGT ban hành kèm theo Thông tư
này.
c) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng theo từng lần phát sinh
tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu là Tờ khai thuế giá trị
gia tăng mẫu số 04/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.
6. Khai thuế
giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán
hàng vãng lai ngoại tỉnh và chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh không
thuộc trường hợp hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều này.
a) Người nộp
thuế kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất
động sản ngoại tỉnh thì khai thuế giá trị gia tăng tạm tính theo tỷ lệ
2% đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%
hoặc theo tỷ lệ 1% đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị
gia tăng 5% trên doanh thu hàng hoá, dịch vụ chưa có thuế giá trị gia
tăng với cơ quan Thuế quản lý địa phương nơi kinh doanh, bán hàng.
b) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây
dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh
là Tờ khai thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo
Thông tư này.
c) Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động
kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động
sản ngoại tỉnh được nộp theo từng lần phát sinh doanh thu. Trường hợp
phát sinh nhiều lần nộp hồ sơ khai thuế trong một tháng thì người nộp
thuế có thể đăng ký với Cơ quan thuế nơi nộp hồ sơ khai thuế để nộp hồ
sơ khai thuế giá trị gia tăng theo tháng.
d) Khi khai thuế với cơ
quan thuế quản lý trực tiếp, người nộp thuế phải tổng hợp doanh thu phát
sinh và số thuế giá trị gia tăng đã nộp của doanh thu kinh doanh xây
dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh
trong hồ sơ khai thuế tại trụ sở chính. Số thuế đã nộp (theo chứng từ
nộp tiền thuế) của doanh thu kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng
lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh được trừ vào số thuế giá trị
gia tăng phải nộp theo tờ khai thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế
tại trụ sở chính.
7. Chuyển đổi áp dụng các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Người nộp thuế đang áp dụng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
trực tiếp, nếu đáp ứng điều kiện tính thuế giá trị gia tăng theo phương
pháp khấu trừ theo quy định của pháp luật về thuế GTGT; hoặc người nộp
thuế đang áp dụng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
chuyển sang phương pháp trực tiếp thì gửi văn bản thông báo đến cơ quan
thuế quản lý trực tiếp về việc chuyển đổi phương pháp tính thuế giá trị
gia tăng theo mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.
Trường
hợp người nộp thuế từ 01/01/2014 thuộc đối tượng được tự nguyện áp dụng
phương pháp khấu trừ theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia
tăng thì gửi văn bản thông báo đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp về
việc áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 06/GTGT
ban hành kèm theo Thông tư này.
Người nộp thuế phải gửi Thông báo về
việc áp dụng phương pháp tính thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp
trước ngày 20 tháng 12 của năm trước liền kề năm người nộp thuế thực
hiện phương pháp tính thuế mới hoặc năm người nộp thuế tự nguyện áp dụng
theo phương pháp khấu trừ.
8. Hướng dẫn khai thuế giá trị gia tăng, lập bảng kê hóa đơn bán ra, hóa đơn mua vào trong một số trường hợp cụ thể
a) Khai thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động đại lý
- Người nộp thuế là đại lý bán hàng hoá, dịch vụ hoặc là đại lý thu mua
hàng hóa theo hình thức bán, mua đúng giá hưởng hoa hồng không phải
khai thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ bán đại lý; hàng
hóa thu mua đại lý nhưng phải khai thuế giá trị gia tăng đối với doanh
thu hoa hồng đại lý được hưởng. Hóa đơn đầu ra, đầu vào của hàng hóa,
dịch vụ bán đại lý và hàng hóa thu mua đại lý được khai trên bảng kê mẫu
số 01-1/GTGT và mẫu số 01-2/GTGT; số liệu tổng hợp về hàng hóa, dịch vụ
bán đại lý, hàng hóa thu mua đại lý trên hai bảng kê này không được sử
dụng làm căn cứ để lập Tờ khai thuế giá trị gia tăng.
- Đối với các
hình thức đại lý khác thì người nộp thuế phải khai thuế giá trị gia tăng
đối với hàng hoá, dịch vụ bán hàng đại lý; hàng hóa thu mua đại lý và
thù lao đại lý được hưởng.
b) Người nộp thuế kinh doanh vận tải thực
hiện nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng của hoạt động kinh doanh vận
tải với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
c) Người nộp thuế tính thuế
theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động mua, bán vàng, bạc, đá quý,
kê khai thuế giá trị gia tăng như sau:
- Đối với hoạt động kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ tính thuế theo phương pháp khấu trừ, người nộp
thuế lập hồ sơ khai thuế theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Đối với hoạt động mua, bán vàng, bạc, đá quý, người nộp thuế lập hồ sơ khai thuế theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều này.
d) Người nộp thuế kinh doanh dịch vụ cho thuê tài chính không phải nộp
Tờ khai thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cho thuê tài chính, mà chỉ
nộp Bảng kê hóa đơn hàng hoá, dịch vụ bán ra theo mẫu số 01-1/GTGT và
Bảng kê hóa đơn hàng hoá, dịch vụ mua vào theo mẫu số 01-2/GTGT, trong
đó chỉ tiêu thuế giá trị gia tăng mua vào chỉ ghi tiền thuế giá trị gia
tăng của tài sản cho thuê phù hợp với hóa đơn giá trị gia tăng lập cho
doanh thu của dịch vụ cho thuê tài chính trong kỳ kê khai. Người nộp
thuế phải nộp hồ sơ khai thuế đối với các tài sản cho đơn vị khác thuê
mua tài chính.
đ) Khai thuế đối với người nộp thuế có hoạt động xuất, nhập khẩu uỷ thác hàng hoá
Người nộp thuế nhận xuất, nhập khẩu ủy thác hàng hóa không phải khai
thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhận xuất, nhập khẩu ủy thác
(trong trường hợp hợp đồng ủy thác không có nội dung ủy thác về thực
hiện nghĩa vụ thuế GTGT thay cho đối tượng ủy thác) nhưng phải khai thuế
giá trị gia tăng đối với thù lao ủy thác được hưởng. Hóa đơn đầu ra,
đầu vào của hàng hóa nhận xuất, nhập khẩu ủy thác được khai trên bảng kê
mẫu số 01-1/GTGT và mẫu số 01-2/GTGT; số liệu tổng hợp về hàng hóa nhận
ủy thác xuất, nhập khẩu trên hai bảng kê này không được sử dụng làm căn
cứ để lập Tờ khai thuế giá trị gia tăng.
e) Việc lập các Bảng kê
hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra kèm theo Tờ khai thuế gửi cho cơ quan
thuế trong một số trường hợp được thực hiện như sau:
- Đối với hàng
hoá, dịch vụ bán lẻ trực tiếp cho đối tượng tiêu dùng như: điện, nước,
xăng, dầu, dịch vụ bưu chính, viễn thông, dịch vụ khách sạn, ăn uống,
vận chuyển hành khách, mua, bán vàng, bạc, đá quý và bán lẻ hàng hoá,
dịch vụ tiêu dùng khác thì được kê khai tổng hợp doanh số bán lẻ, không
phải kê khai theo từng hóa đơn.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ mua lẻ,
bảng kê tổng hợp được lập theo từng nhóm mặt hàng, dịch vụ cùng thuế
suất, không phải kê chi tiết theo từng hóa đơn.
- Đối với cơ sở kinh
doanh ngân hàng có các đơn vị trực thuộc tại cùng địa phương thì các
đơn vị trực thuộc phải lập Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra để
lưu tại cơ sở chính. Khi tổng hợp lập Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào,
bán ra, cơ sở chính chỉ tổng hợp theo số tổng hợp trên Bảng kê của các
đơn vị phụ thuộc.
9. Trường hợp cơ sở kinh doanh uỷ nhiệm cho bên
thứ ba lập hóa đơn cho hoạt động bán hàng hoá, dịch vụ thì bên được uỷ
nhiệm lập hóa đơn không phải khai thuế giá trị gia tăng đối với doanh
thu bán hàng hoá, dịch vụ được uỷ nhiệm lập hóa đơn. Cơ sở kinh doanh uỷ
nhiệm lập hóa đơn có trách nhiệm khai thuế giá trị gia tăng đối với
doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ đã ủy nhiệm cho bên thứ ba lập hóa đơn.
10. Việc khai thuế giá trị gia tăng để xác định số thuế giá trị gia
tăng phải nộp theo phương pháp khoán thực hiện theo hướng dẫn tại Điều
21 Thông tư này.
11. Khai thuế GTGT đối với dự án ODA, viện trợ nhân đạo, miễn trừ ngoại giao
a) Chủ dự án ODA viện trợ không hoàn lại, Văn phòng đại diện nhà tài
trợ Dự án ODA; tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức ở Việt Nam sử dụng
tiền viện trợ nhân đạo thuộc diện được hoàn thuế GTGT; đối tượng hưởng
ưu đãi miễn trừ ngoại giao không phải khai thuế GTGT hàng tháng.
b)
Chủ dự án ODA thuộc diện không được hoàn thuế GTGT thực hiện
khai thuế GTGT hàng tháng theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo
Thông tư này và gửi Cục thuế quản lý trực tiếp địa bàn nơi thực hiện
dự án.
c) Nhà thầu nước ngoài thực hiện dự án ODA thuộc
diện được hoàn thuế GTGT, thực hiện khai thuế GTGT hàng tháng
theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này và gửi Cục thuế
quản lý trực tiếp địa bàn nơi thực hiện dự án.
Trường hợp chủ dự án
ODA và nhà thầu nước ngoài theo hướng dẫn tại điểm b và c nêu trên thực
hiện dự án ODA có liên quan đến nhiều tỉnh thì hồ sơ khai thuế gửi Cục
thuế quản lý trực tiếp nơi chủ dự án, nhà thầu nước ngoài đóng trụ sở
chính.
12. Đối với các trường hợp sử dụng hóa đơn GTGT cho hoạt động
không phải tính thuế GTGT theo quy định của pháp luật về thuế GTGT thì
người nộp thuế vẫn thực hiện khai trên bảng kê mẫu số 01-1/GTGT ban hành
kèm theo Thông tư này, không phải tổng hợp lên Tờ khai thuế GTGT mẫu số
01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này .
Categories:





0 comments:
Post a Comment